Tìm giải pháp nâng cao chất lượng cao su thiên nhiên VN 17/12/2013

Tham dự chương trình có ông Trần Ngọc Thuận – Chủ tịch VRA, TGĐ VRG; cùng với hơn 100 đại biểu là các chuyên gia, bạn hàng trong nước và quốc tế. Hội thảo là dịp để trao đổi thông tin về thị trường cao su trên thế giới và giới thiệu tiềm năng của ngành cao su VN đến với các nhà tiêu thụ và xuất nhập khẩu. Đồng thời cũng là dịp để VRA tiếp thu những ý kiến đánh giá, đề xuất về việc nâng cao chất lượng của cao su thiên nhiên VN.

Dự báo cung cầu về thị trường cao su trên thế giới

Theo Tổ chức Nghiên cứu Cao su quốc tế (IRSG), tiêu thụ cao su của thế giới từ năm 1982 – 2012 gia tăng liên tục theo sự phát triển của các ngành công nghiệp, kinh tế thế giới. Cơ cấu sản phẩm có sử dụng cao su thiên nhiên nhiều nhất là các sản phẩm lốp xe, chiếm đến 65%, số còn lại phân bổ vào các sản phẩm khác bao gồm: chỉ thun, găng tay y tế, nệm, giày dép… Trung Quốc đang là nước dẫn đầu về số lượng tiêu thụ cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp. Chỉ tính riêng năm 2012, Trung Quốc tiêu thụ 8.892.000 tấn. Về chủng loại cao su thiên nhiên được xuất khẩu năm 2012, Thái Lan, Indonesia, Malaysia xuất khẩu chủ yếu cao su TSR 20. VN xuất khẩu sản phẩm SVR 3L, chiếm 39.2 % .

Nhu cầu về lốp xe được dự báo sẽ phục hồi từ năm 2013 theo đà tăng trưởng của ngành ô tô và chủ yếu từ nhu cầu thay thế lốp của các loại xe đang được sử dụng. Nhờ vậy, nhu cầu về cao su của thế giới được dự báo sẽ tăng liên tục từ 2013 – 2025. Trong đó, nhu cầu cao su thiên nhiên ước đoán tăng bình quân hằng năm 4,3% và đạt khoảng 19,1 triệu tấn vào năm 2015. Nhu cầu cao su tổng hợp ước đạt 23,4 triệu tấn, tăng khoảng 3,5% mỗi năm. Từ năm 2005 – 2012, tổng diện tích cao su trên toàn thế giới tăng khoảng 3,52 triệu ha. Sản lượng từ diện tích mới phát triển này sẽ làm nguồn cung tăng nhanh trong giai đoạn từ 2013 – 2024, tuy nhiên đến 2025, theo dự báo nguồn cung có thể tăng chậm hơn cầu.

Nâng cao chất lượng cao su thiên nhiên VN

Sản lượng cao su của VN liên tục tăng cao qua từng năm, VN có khả năng xuất khẩu trên một triệu tấn mỗi năm, đóng góp khoảng 10% vào lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu trên thế giới. Tuy nhiên, ngành cao su nước ta đang gặp một số hạn chế do chất lượng chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp và những nông hộ tiểu điền. Chính phủ VN và các bên liên quan rất nỗ lực để giúp cải thiện tình hình trên.

Theo ông Nguyễn Đại Thao – TGĐ Công ty R1 International VN,  để nâng cao chất lượng cao su thiên nhiên của VN, về phía Nhà nước cần lập Hội đồng Cao su gồm các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực sơ chế cao su, đại diện cho các bên, có quyền lực trong việc tư vấn, thanh tra, giám sát và phê duyệt việc cấp giấy phép cho các nhà máy mới, đồng thời chứng nhận chất lượng cho các nhà máy đã hoạt động. Cần có quy định pháp luật yêu cầu các nhà máy cao su đều phải lập phòng kiểm phẩm đạt tiêu chuẩn VILAS và được Viện NCCS kiểm chứng. Những nhà máy có sản phẩm cao su đạt tiêu chuẩn quốc gia mới được phép sử dụng nhãn cao su tiêu chuẩn VN SVR hoặc nhãn của thương hiệu cao su VN. Cao su nguyên liệu thu mua cũng cần đạt chuẩn. Các nhà máy không đạt chuẩn thì chỉ có thể sử dụng nhãn riêng của nhà máy đó. Nhà nước phải quy hoạch lại vùng nguyên liệu và nhà máy sản xuất, đóng cửa các nhà máy nhỏ lẻ gây ô nhiễm môi trường và không đạt tiêu chuẩn.

Việc xây dựng các nhà máy chế biến có quy mô lớn phải đảm bảo quy trình quản lý chất lượng chặt chẽ, có phòng kiểm định chất lượng. Đi kèm đó, áp dụng KHKT tiên tiến vào sản xuất, chế biến. Kiên quyết nói “không” với các nhà cung cấp nguyên liệu có chất lượng xấu. Đảm bảo không sử dụng những hóa chất cấm trong chế biến cao su.

Về phía nông dân và người cạo mủ cũng cần học hỏi thêm kỹ năng chăm sóc cây cao su, cạo mủ đúng quy trình kỹ thuật. Không sử dụng hóa chất bảo quản có hại hoặc bị cấm trong quy trình bảo quản và chế biến mủ cao su. Lưu trữ mủ chén, mủ đông và mủ tạp trong điều kiện sạch sẽ, không để lẫn tạp chất. Cần bỏ thói quen thu hoạch mủ và bán liền trong ngày, nên chuyển sang chế biến mủ tờ chưa xông khói, nhằm tránh bị ép giá mủ nước khi phải bán trong ngày.

Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm phù hợp

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cao su công nghiệp của VN tăng liên tục và xuất siêu vào năm 2011 – 2012. Các sản phẩm cao su chủ lực trong xuất khẩu là lốp (33%), linh kiện cao su và sản phẩm cao su lưu hóa, chiếm 30%. Trong đó, SVR 3L là chủng loại cao su thiên nhiên VN xuất khẩu nhiều nhất. Theo xu hướng mới, thị trường cao su thế giới đang cần cơ cấu chủng loại sản phẩm đa dạng. Ông Đinh Ngọc Đạm – TGĐ Công ty CPCS Đà Nẵng, cho biết: “Là công ty chuyên sản xuất vỏ xe để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, mỗi năm Công ty CPCS Đà Nẵng có nhu cầu 20.000 tấn. Chủng loại cao su gồm có RSS3, SVR 3L, SVR 10, 20. Tuy nhiên, nhu cầu về SVR 3L ngày càng giảm. Trong khi nhu cầu về chủng loại SVR 10, 20 đang tăng cao. Vì vậy, tôi nghĩ các công ty nên chuyển hướng tăng dần các chủng loại mà khách hàng có nhu cầu. Dù cho giai đoạn đầu có khó khăn nhưng đó sẽ là xu thế chung, nếu làm được đều đó thì rất thuận lợi về việc xuất khẩu trong nước và trên thị trường quốc tế”.

Ông Franco Fan – đại diện Tập đoàn Goodyear, nhận định: “Năng suất, sản lượng cao su VN tăng cao so với các nước sản xuất cao su trong khu vực. Để mở rộng thị trường cao su xuất khẩu ra các nước trên thế giới, cao su VN cần chú trọng đến việc đa dạng hóa chủng loại, đảm bảo chất lượng. Với sản phẩm cao su tư nhân, VRA nên hỗ trợ cho các nhà máy sản xuất tư nhân để họ bắt kịp các nhà máy trực thuộc VRG, nhằm đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế và cải thiện hình ảnh cao su VN trên thị trường thế giới”.

Quỳnh Mai

ĐƠN VỊ TÀI TRỢ
ĐƠN VỊ TÀI TRỢ